Con Chiên Lạc
Khi những giáo sĩ phương Tây bắt đầu đến Đại
Hàn lần đầu tiên, bà cố ngoại tôi sống ở Sunkyori, thành phố Pyungyang.
Bà đã trở thành người đi nhà thờ trung tín. Vào thời đó, khẩu hiệu
“ Tin Chúa Jêsus, thiên đàng; không tin địa ngục” rất là phổ biến
với quần chúng. Từ đó, bốn thế hệ, từ bà cố tôi đến tôi đều là những
người đi nhà thờ trung tín. Cha tôi mở một cửa hàng bán nhạc cụ,
và sau khi cưới mẹ tôi, cả hai đã chuyển đến Namwon, nơi tôi được
sinh ra. Sau khi tôi sinh được năm tháng, đất nước tôi đã được độc
lập sau ba mươi sáu năm cai trị của Nhật Bản.
Tôi đã bắt đầu tham gia vào việc kinh doanh nhà trọ ở Namwon. Cha
tôi kế tục việc kinh doanh của bà cô tôi, và có lúc ông đã nổi tiếng
đến mức các khách hàng của ông là các tổng thống, những nhân vật
nổi tiếng và những siêu sao. Cả gia đình tôi đều tận tụy với nhà
thờ trong phương châm “Duy Jêsus”, còn việc kinh doanh nhà trọ là
một công việc phụ.
Sau khi cha tôi qua đời, có một sự xích mích giữa anh em tôi về
vấn đề tài sản; và việc quản trị kinh doanh ngày càng khó khăn hơn.
Sự việc lại càng trở nên tồi tệ hơn khi bỗng nhiên vợ tôi bị mắc
phải hàng loạt những bệnh hiểm nghèo – tê liệt ở mặt, rối loạn não,
khối u ở tử cung. Hễ khi tôi gặp khó khăn lớn, tôi thường chạy đến
mục sư để tìm kiếm lời khuyên của ông nhưng lúc nào ông cũng trả
lời là: “Hãy kiên nhẫn.” Vì vậy, tôi than khóc và la hét với Đức
Chúa Trời rằng:
“Lạy Đức Chúa Trời, con đang đứng trên bờ vực của sự phá sản và
thậm chí con phải bán nhà đi nữa. Xin ban phước cho con bằng tiền!
Ngài biết rằng con đã dâng tiền để xây dựng nhà thờ, cũng như cho
những nhà thờ mới mở và cho quỹ phúc lợi. Tại sao Ngài không ban
phước cho con? Con đang chết đây!”
Tôi oán trách sự đối xử bất công của Đức Chúa Trời vì Ngài đã cho
những kẻ vô tín được giàu có.
Một ngày nọ, một nhà truyền giáo đã đến thăm tôi và nói: “Con trai
ông đã được cứu trong lúc nghe giảng tại một buổi nhóm truyền giảng
của giáo hội Báp-tít ở trung tâm Cheju (Hội Truyền giáo Tin lành).
Cậu ấy tìm thấy một tờ quảng cáo ghi rằng: “Bí mật của sự tha tội
và tái sanh” vào lúc cậu ta bị đau khổ sâu xa. Tôi đến đây để gặp
ông theo yêu cầu của con trai ông.”
Một lát sau, nhà truyền giáo Chung (Yeon Chul Chung, Hội Thánh Ân
Điển Namwon thuộc Hội Truyền giáo Tin lành) trở lại để giải thích
lời Kinh Thánh hết sức chi tiết mà tôi chưa hề được nghe bao giờ.
Khi nghe những lời này, tôi nhận thấy tôi là một tội nhân. Ong ấy
tặng tôi hai cuốn sách “Bí mật của sự tha tội và tái sanh” I và
II (do mục sư Ock Soo Park viết). Khi đọc những cuốn sách đó, tôi
biết rằng Chúa đã đổ huyết ra để tẩy sạch tất cả mọi tội lỗi tôi
và Đức Chúa Trời sẽ không còn nhớ tội lỗi của tôi nữa vì cớ huyết
của Đức Chúa Jêsus Christ và tôi đã được nên thánh bởi sự dâng thân
thể của Đức Chúa Jêsus Christ.
Tôi được tái sanh qua lời của Đức Chúa Trời được chép trong Hê-bơ-rơ
10:10-18, và tôi đã nhận được sự vui mừng thật. Tôi nhận ra rằng
tôi đã bị Satan lừa dối hoàn toàn mà không hề biết rằng tất cả tội
lỗi của tôi đã được rửa sạch cả rồi. Đây thật sự là một “tin lành”
cho tôi. Tôi cảm tạ Đức Chúa Jêsus Christ rất nhiều sau khi tôi
nhận thấy rằng Ngài đã cho phép những hoàn cảnh tệ hại và những
nỗi khó khăn đến trong đời tôi để hạ tôi xuống, rồi Ngài mới dắt
tôi từ thế gian này lên đến thiên đàng.
Sau khi được tái sanh, tôi nhớ bà nội và cha mẹ tôi thường nói:
“Đừng buồn các vị mục sư! Hãy vâng lời họ ngay cả khi họ phạm sai
lầm, bởi vì họ là tôi tớ của Đức Chúa Trời.” Tôi nhớ những lời cầu
nguyện của họ: “Con là một tội nhân, nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ
cầu nguyện.” Tôi cảm thấy rất tiếc cho những ai chưa được tái sanh.
Vợ tôi, người thường cười nhạo tôi và em họ tôi đều đã được cứu
trong suốt thời gian có trại hè của Hội Truyền giáo Tin lành lần
thứ 21.
Tôi cảm tạ Đức Chúa Jêsus Christ, bởi ân điển của Ngài, Ngài đã
cứu tôi khỏi tình trạng kiệt quệ hoàn toàn sau khi đã làm nô lệ
cho các tập tục tôn giáo bốn mươi bảy năm, giờ chỉ còn lại cuộc
đời của một người đã chết đi một nửa.
|